1. Sách Thánh Hiền - Nhân - Tần Tại Đông, Trần Hoa Châu
2. Sách Thánh Hiền - Lễ - Hạng Cửu Vũ - Chiêm Dật Thiên
----------------------------------
1. Sách Thánh Hiền - Nhân - Tần Tại Đông, Trần Hoa Châu

Nho giáo – triết học Nho giáo là thành tựu phong phú và rực rỡ không chỉ của nền văn minh phương Đông mà của cả nhân loại.
Triết học Nho giáo nhấn mạnh sự tu dưỡng đạo đức và quy phạm làm người; “đạo trung dung” và các đức tính nhân, lễ, nghĩa,…
Các giá trị Nho giáo “Nhân” – “Lễ” – “Nghĩa” – “Trí” – “Tín” chính là tư tưởng cốt lõi trong học thuyết của Khổng Tử – người được coi là nhà sáng lập triết học Nho giáo.
“Nhân” là trung tâm của các đức tính: tình cảm, chân thật, ngay thẳng, hết lòng vì nghĩa, rộng lượng, khoan dung và siêng năng, cần mẫn; người có đức tính nhân chỉ hành động vì nhân nghĩa, đối lập với kẻ bất nhân hành động vì lợi.
“Lễ” được xem là quy phạm đạo đức và hành vi được chế định cho con người, từ đó để biết việc nào nên làm, việc nào không nên làm. “Nhân” và “Lễ” gắn bó chặt chẽ với nhau, “Nhân” là nội dung của “Lễ”, “Lễ” là hình thức của “Nhân”
“Nghĩa” là nguồn gốc của “Lễ”, là cách hành xử đúng đắn, “Nghĩa” cũng xuất phát từ “Nhân”, mang đậm tính nhân văn. Muốn thực hiện điều nghĩa thì cần gạt bỏ ham muốn dục vọng cá nhân, đồng thời muốn làm được việc “Nghĩa” thì phải có “Trí”.
“Trí” là trí tuệ, con người có trí tuệ, có sự hiểu biết mới thực hành đạo đức có hiệu quả. Chuẩn mực của “Trí” là hiểu biết mọi sự vật, sự việc; hiểu biết đến nơi đến chốn; chân thành, khiêm tốn trong hiểu biết; hiểu biết với tâm thế ngay thẳng chính trực thì mới đạt đến “Nhân” và thực hiện được “Nhân”.
“Tín” là lòng tin, là niềm tin vào chính đạo, có nghĩa là lời nói và việc làm suy nghĩ và hành động phải thống nhất, trước sau như một. “Tín” là hệ quả của bốn đức “Nhân”, “Lễ”, “Nghĩa”, “Trí”; có nhân, nghĩa, lễ, trí mới gây dựng được lòng tin, mới thực hiện được chữ “Tín”
----------------------------------
2. Sách Thánh Hiền - Lễ - Hạng Cửu Vũ - Chiêm Dật Thiên

Cuốn sách dày hơn 400 trang, gồm 6 phần: “Bất học lễ, vô dĩ lập – Dùng lễ để tu thân, chú trọng tu dưỡng đạo đức cá nhân”; “Lễ dĩ quan đức, đức dĩ xử sự – Dùng lễ để xử lý công việc, giải quyết việc khó trong thiên hạ”; “Lễ chi dụng, hòa vi quý – Dựa vào lễ để giao kết bạn bè, áp dụng đạo trung dung trong các mối quan hệ giao tiếp”; “Hiếu, lễ chi thủy dã – Tất cả mọi lễ tiết trong thiên hạ đều bắt đầu từ đạo hiếu trong gia đình”; “Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ – Dùng đạo đức để dẫn dắt bách tính, dùng lễ chế để cảm hóa dân chúng: Phát huy và giữ gìn lễ pháp, người quản lý phải học lễ, hiểu lễ”; “Bất dĩ quy củ, bất năng thành phương viên – Ở chốn quan trường, người hiểu lễ sẽ có được thiên hạ”.